Valsartan 160 H30vbf

NSX: Savi

Chi tiết sản phẩm

Thành phần Valsartan 80mg.

Mô tả:

Công dụng (Chỉ định)

- Điều trị tăng huyết áp.

- Điều trị suy tim (độ II đến IV theo phân loại của NYHA- New York Heart Association) trên bệnh nhân điều trị thông thường như thuốclợi tiểu, trợ tim cũng như các chất ức chế ACE (angiotensin-converting enzymeinhibitors) hoặc chẹn beta, sự có mặt của những điều trị chuẩn không bắt buộc.Valsartan bước đầu làm giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân suy tim; rồi làmchậm sự tiến triển suy tim, giảm nhẹ độ suy tim chức năng theo phân loại củaNYHA, tăng khả năng bơm máu, giảm dấu hiệu và triệu chứng của suy tim và cảithiện chất lượng cuộc sống so với dùng giả dược

Cách dùng - Liều dùng

- Cao huyết áp: Liều được khuyến cáo củavalsartan là 80mg/ngày/một lần, không phân biệt chủng tộc, tuổi hoặc giới tính.Tác dụng chống tăng huyết áp thể hiện rõ ràng trong vòng 2 tuần lễ đầu và tácdụng tối đa đạt sau 4 tuần.

Ở những bệnh nhân có huyết áp không được kiểm soát thỏađáng, liều dùng hàng ngày có thể tăng tới 160mg; hoặc có thể thêm thuốc lợitiểu. Không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân suy thận hoặc suy gan (khôngdo nguyên nhân mật và không có ứ mật). Cũng có thể dùng valsartan với các thuốcchống tăng huyết áp khác.

- Suy tim:

Liều ban đầu được khuyến cáo của valsartan là 40mg × 2lần/ngày.

Liều dùng cao nhất là 80mg – 160mg × 2 lần mỗi ngày ởbệnh nhân dung nạp được.

Nên giảm liều khi kết hợp với thuốc lợi tiểu. Liều tối đatrong ngày đã hướng dẫn trong các thử nghiệm lâm sàng là 320mg, nhưng phải chiathành nhiều lần để uống.

Tính an toàn và hiệu quả của valsartan chưa xác định đượctrên trẻ em.

Chống chỉ định

Quá mẫn với các thành phần của thuốc.

Phụ nữ có thai và cho con bú.

Dược lực học

Cao huyết áp:

Hormon có hoạt tính của hệ renin-angiotensin-aldosteron(RAA) là angiotensin II; được hình thành từ angiotensin I. Angiotensin II gắnvới một số thụ thể đặc hiệu trên màng tế bào ở các mô. Angiotensin II có nhiềutácdụng sinh lý gồm cả sự tham gia trực tiếp và gián tiếp trong việc điều hoàhuyết áp. Là một chất có khả năng gây co mạch, angiotensin II gây một đáp ứngtăng áp lực mạch trực tiếp. Ngoài ra nó có tác dụng tăng cường giữ muối và kíchthích bài tiết aldosteron. Valsartan dùng đường uống có hoạt tính đối kháng đặchiệu với thụ thể angiotensin II (Ang.II). Thuốc hoạt động một cách chọn lọctrên kiểu phụ thụ thể AT1 (Angiotensin II receptor type 1); thụ thể này kiểmsoát hoạt động của Ang.II. Nồng độ Ang.II tăng trong huyết thanh khi thụ thểAT1 bị ức chế bằng valsartan dẫn đến hoạt hóa thụ thể AT2; thụ thể này có tácdụng cân bằng với thụ thể AT1. Valsartan không có bất cứ hoạt động chủ vận nàođối với thụ thể AT1nhưng có ái tính với thụ thể AT1 mạnh hơn nhiều (gấp 20.000lần) so với thụ thể AT2. Valsartan không ức chế ACE, còn gọi là kinase H, cótác dụng chuyển Ang.I thành Ang.II và làm thoái hóa bradykinin. Vì không có tácdụng lên ACE và không hoạt hóa bradykinin hay chất P, các chất đối kháng Ang.IIkhông có khả năng gây ho. Trong các thử nghiệm lâm sàng valsartan được so sánhvới một thuốc ức chế ACE cho thấy tỷ lệ ho khan ít hơn đáng kể (2,6% so với7,9% tương ứng P < 0.05). Valsartan không gắn kết hoặc chẹn các thụ thểhormon khác hay các kênh ion được biết là quan trọng đối với việc điều hoà timmạch.

Việc dùng valsartan cho các bệnh nhân tăng huyết áp dẫnđến kết quả là làm hạ huyết áp mà không ảnh hưởng tới nhịp tim.

Trên hầu hết các bệnh nhân, sau khi dùng một liều duynhất, tác dụng chống tăng huyết áp đạt được trong vòng 2 giờ và hạ huyết áp tốiđa đạt được trong vòng 4 – 6 giờ. Tác dụng chống tăng huyết áp duy trì tronghơn 24 giờ kể từ khi dùng thuốc. Trong quá trình dùng thuốc nhắc lại, mức độtối đa giảm huyết áp ở bất kỳ liều nào đạt được trong vòng 2 – 4 tuần và đượcduy trì trong suốt quá trình điều trị dài hạn. Nếu được phối hợp vớihydrochlorothiazid thì có thể đạt được mức hạ huyết áp thêm đáng kể.

Việc ngưng dùng valsartan đột ngột không liên quan đếntăng huyết áp đột ngột trở lại hoặc các tác dụng phụ trên lâm sàng. Trong việcnghiên cứu đa liều trên bệnh nhân tăng huyết áp, valsartan không có các tácdụng lên cholesterol toàn phần, triglycerid khi đói, đường huyết khi đói hoặcacid uric.

Suy tim:

- Huyết động học và nội tiết tố thần kinh:

Huyết động học và nội tiết tố thần kinh trong huyết tươngđược đánh giá trên bệnh nhân suy tim độ II – IV (theo phân loại của NYHA) vớiáp lực mao mạch phổi ≥ 15mmHg trong 2 nghiên cứu ngắn hạn, điều trị kéo dài.Trong một nghiên cứu bao gồm bệnh nhân điều trị kéo dài với chất ức chế ACE,đơn liều valsartan và đa liều điều trị kết hợp valsartan với một thuốc ức chếmen chuyển, đã cải thiện huyết động học bao gồm áp lực mao mạch phổi, áp lựcđộng mạch phổi trong thì tâm trương, áp lực động mạch phổi trong thì tâm thu.Nồng độ aldosteron huyết tương và norepinephrin huyết tương giảm sau 28 ngàyđiều trị. Trong nghiên cứu thứ hai bao gồm những bệnh nhân chỉ được điều trị bằngchất ức chế ACE ít nhất 6 tháng trước khi điều trị với valsartan; valsartan cảithiện đáng kể áp lực mao mạch phổi, sức bền thành mạch, công suất tim và áp lựcđộng mạch phổi trong thì tâm thu sau 28 ngày điều trị. Trong nghiên cứuVal-HeFT dài hạn, norepinephrin huyết tương và natriuretic peptid não giảm đángkể từ nồng độ ban đầu của nhóm điều trị bằng valsartan so với nhóm giả dược(placebo)

- Tỳ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong:

Trong nghiên cứu đa quốc gia, có kiểm soát và ngẫu nhiênở bệnh nhân suy tim điều trị bằng valsartan so với giả dược, về tình hình mắcbệnh và tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy tim độ II (62%); III (36%) và IV (2%)theo phân loại của NYHA với LVEF 2,9cm/m2. Nghiên cứu ngẫu nhiên trên 5010 bệnhnhân ở 16 nước, điều trị bằng valsartan hoặc giả dược cùng với các thuốc điềutrị thích hợp khác bao gồm chất ức chế ACE (93%), lợi tiểu (86%), digoxin (67%)và chẹn beta (36%).

Thời gian nghiên cứu trung bình gần 2 năm.

Liều dùng hàng ngày của valsartan là 254mg cho bệnh nhânsuy tim.

Nghiên cứu đã đưa ra 2 kết luận đầu tiên : mọi nguyênnhân tử vong (thời gian dẫn đến chết) và tình hình suy tim (thời gian bắt đầuxuất hiện suy tim) được xác định như là chết, sự chết đột ngột và sự tỉnh lại,thời gian nằm viện cho bệnh nhân suy tim, hoặc truyền tĩnh mạch thuốc tăngcường co bóp tim hoặc thuốc giãn mạch trong 4 giờ hơn hoặc không nằm viện. Mọinguyên nhân gây tử vong đều giống nhau ở nhóm điều trị bằng valsartan hoặc giảdược. Lợi ích đầu tiên là giảm 27,5% nguy cơ dẫn đến nằm viện điều trị suy timlần đầu. Lợi ích lớn nhất cho bệnh nhân là không cần phải điều trị bằng chất ứcchế ACE hay chẹn beta; tuy nhiên tỷ lệ rủi ro khi điều trị bằng giả dược caohơn nhóm bệnh nhân được điều trị kết hợp với chẹn beta, một chất ức chế ACE vàvalsartan. Tuy vậy rất khó nhận thấy sự khác nhau thực sự hay những tác dụngthay đổi của hai nhóm bệnh nhân đã được đánh giá.

Dược động học

Sau khi uống valsartan được hấp thu nhanh chóng, mặc dùlương thuốc được hấp thu rất khác nhau. Sinh khả dụng tuyệt đối trung bình củavalsartan là 23%.

Valsartan có động học phân huỷ theo hệ số mũ (t ½ /2a< 1 giờ và t ½ / 2β khoảng 9 giờ)

Dược động học của valsartan là đường tuyến tính tương ứngvới các liều thử. Không có sự thay đổi về mặt động học của valsartan khi dùngnhắc lại, và tích tụ rất ít khi dùng một liều trong ngày. Nồng độ huyết tương ởnữ giới cũng như nam giới. Valsartan có khả năng gắn kết protein huyết tươngcao (94 – 97%), chủ yếu là albumin huyết thanh.

Thể tích bền vững của sự lưu thông thấp (khoảng 17 lít).Hệ số thanh thải huyết tương là tương đối chậm (khoảng 2 lít) khi so sánh vớilưu lượng tưới máu gan (khoảng 30 lít/giờ). Sau khi được hấp thu có khoảng 70%valsartan được bài tiết qua phân và 30% qua nước tiểu, chủ yếu là dưới dạngkhông đổi. Khi dùng valsartan với thức ăn, hệ số biến thiên diện tích dướiđường cong-nồng độ (AUC) của valsartan giảm 48%, mặc dù sau 8 giờ uống thuốc,nồng độ valsartan trong huyết tương tuông đương như nhau đối với người đã ănhoặc nhịn đói. Mặc dù giảm AUC nhưng không giảm đáng kể về hiệu quả lâm sàngtrong điều trị, nên valsartan có thể được dùng cùng hoặc không cùng với thứcăn.

Thời gian trung bình để đạt nồng độ đỉnh và thời gian bánhuỷ của valsartan ở bệnh nhân suy tim cũng như ở người tình nguyện khoẻ mạnh làtương ứng nhau. Giá trị AUC và Cmax tăng theo đường tuyến tính và tương ứng vớitỷ lệ tăng liều điều trị (40 đến 160mg ngày 2 lần). Tỷ lệ tích tụ trung bìnhvào khoảng 1,7. Hệ số thanh thải của valsartan là xấp xỉ 4,5 lít/giờ. Tuổi táccũng không làm thay đổi hệ số thanh thải của bệnh nhân suy tim.

Nhóm đặc biệt:

- Người già: Sự ngấm độc toàn thân của valsartan đượcquan sát thấy ở một số người lớn tuổi cao hơn ở người trẻ tuổi. Tuy nhiên điềunày không có ý nghĩa về mặt lâm sàng.

- Suy giảm chức năng thận: Người ta cho rằng thuốc bàitiết qua thận chỉ chiếm 30% của tổng hệ số thanh thải của huyết tương, và cũngkhông có sự liên quan giữa chức năng thận và sự ngấm độc toàn thân củavalsartan. Do vậy sự điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận là không cần thiết.Không có nghiên cứu nào đã tiến hành chỉ ra rằng valsartan có thể đào thải bằngthẩm tách vì valsartan gắn kết mạnh với protein huyết tương.

- Suy giảm chức năng gan: Khoảng 70% lương thuốc hấp thuđược đào thải qua đường mật chủ yếu dưới dạng không đổi. Valsartan không trảiqua sự biến đổi sinh học, như đã dự đoán, sự ngấm độc toàn thân do valsartankhông liên quan đến mức độ suy giảm chức năng của gan. Không cần thiết điềuchỉnh liều valsartan cho bệnh nhân thiểu năng gan do nguyên nhân ngoài gan vàkhông bị ứ mật.

Các số liệu an toàn tiền lâm sàng

Các dữ liệu tiền lâm sàng cho thấykhông có mối nguy hiểm đặc biệt cho con người dựa trên các nghiên cứu thôngthường về an toàn dược học, độc tính liều lặp đi lặp lại, độc tính gen(genotoxicity), khả năng gây ung thư, độc tính sinh sản.

Trong các nghiên cứu an toàn tiềnlâm sàng, liều cao valsartan (200-600 mg / kg trọng lượng cơ thể) ở chuột cốnggây ra giảm thông số tế bào máu đỏ (hồng cầu, huyết sắc tố, hematocrit (tỷ lệthể tích huyết cầu)) và bằng chứng về sự thay đổi trong huyết động học thận(tăng nhẹ của urê trong huyết tương, và ống thận tăng sản và tăng bạch cầu ưabase (basophilia) ở nam giới). Dùng liều tương tự cho khỉ đuôi sóc châu Mỹ(marmosets) dẫn đến các thay đổi tương tự kể trên, mặc dù nghiêm trọng hơn, đặcbiệt là ở thận, nơi mà sự thay đổi phát triển thành bệnh viêm thận phù dẫn đếndo urê và creatinin tăng cao. Phì đại của các tế bào gần cầu thận(juxtaglomerular) cũng được thấy trong cả hai loài. Tất cả các thay đổi đượcxem là kết quả từ tác dụng dược lý của valsartan do kéo dài hạ huyết áp, đặcbiệt trên khỉ đuôi sóc châu Mỹ. Phì đại của các tế bào gần cầu thận có vẻ khôngliên quan ở người khi dùng liều khuyến cáo của valsartan.

Do đó valsartan không có tính gâyvỡ nhiễm sắc thể tế báo (clastogeni- city), gây đột biến gen hoặc gây ung thư.

Bảo quản:

Nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

Tránh xa tầm tay trẻ em